Tổng hợp các bài văn khấn quan lớn tuần tranh

0
175

Vai trò Quan lớn Tuần Tranh là Sát quỉ trừ tà. Hãy cùng tạp chí tử vi tìm hiểu các bài văn khấn quan lớn tuần tranh nhé!

Quan Lớn Đệ Ngũ Tuần Tranh, hay còn gọi là Ông Lớn Tuần Tranh. Ông là con trai thứ năm của Vua Cha Bát Hải Động Đình. Dưới thời Hùng Vương (Hùng Triều Thập Bát), ông giáng trần vào một gia đình ở phủ Ninh Giang (nay là Hải Dương). Ông trở thành vị tướng quân tài ba thống lĩnh thủy bộ, được giao quyền trấn giữ miền duyên hải sông Tranh.

Trong hàng Ngũ Vị Tôn Ông, cùng với Quan Lớn Đệ Tam, Quan Lớn Đệ Ngũ cũng là một vị quan lớn danh tiếng hết sức lẫy lừng, được nhân dân xa gần tôn kính phụng thờ. Tuy ông đứng thứ năm trong hàng quan, nhưng lại hay về ngự đồng nhất. Khi ngự đồng ông mặc áo lam thêu rồng, hổ phù, làm lễ tấu hương, khai quang, chứng sớ tán đàn rồi múa thanh long đao. Bất kỳ ai mở phủ đều phải đợi thỉnh Quan Lớn Đệ Ngũ về chứng một lần hết tất cả các đàn mã sớ trạng rồi mới được đem đi hoá.

Tổng hợp các bài văn khấn quan lớn tuần tranh
Tổng hợp các bài văn khấn quan lớn tuần tranh

1. Văn khấn quan lớn Tuần Tranh bản đầy đủ

Đệ tử con khấu đầu cung thủ

Tiến văn chầu đệ ngũ tuần tranh

Uy gia lẫm liệt tunghoành

Trừ tà sát quỷ lên danh tướng tài

Việt sử chép Hùng triều thập bát

Cảnh địa linh Bạch Hạc Phong Châu

Dựng nền xã tắc dài lâu

Nhớ ơn tiên tổ đời sau giữ gìn

Vừa gặp hội bể yên sóng lặng

Triệu bách thần gia tặng phong công

Quan Tuần Tranh lẫm liệt oai hùng

Cứu dân hộ quốc nên công hàng đầu

Giảo Long hầu khâm ban sắc tứ

Trấn Ninh Giang thuỷ bộ chư danh

Bao phen đắp luỹ xây thành

Khắp miền duyên hải sông Tranh nức lòng

Sông Tranh ơi hỡi sông Tranh,

Non nước còn ghi trận tung hoành,

Lẫm liệt oai hùng gương tráng sĩ,

Ngàn thu ghi nhớ dấu oai linh.

Ai về qua bến sông Tranh,

Nhớ người tráng sĩ tài danh tuyệt vời.

Dẫu rằng nước chảy hoa trôi,

Sông Tranh dù cạn, ơn người còn ghi.

Loa đồng hỏi nước sông Tranh,

Long đao cứu nước, anh hùng là ai?

Sông Tranh đáp tiếng trả lời,

Có Quan đệ ngũ, chính người Ninh Giang

Tài cung kiếm sánh cùng võ tử

Đức kinh luân ví tựa Trương Tô

Phong lưu mã thượng giang hồ

Cung cầm dưới nguyệt con đò trên sông

Chí đã quyết ngaòi vòng cương toả

Hay đâu là duyên nợ ba sinh

Buồng xuân thiếu bạn chung tình

Thoả lòng tráng sĩ tài anh phỉ nguyền

Thề non nước nên duyên kì ngộ

Bỗng đâu ngờ mắc nợ oan khiên

Tin đâu khẩn cấp ban truyền

Quan quân tầm nã khắp miền sông tranh

Có ngờ đâu đất trời thay đổi,

Người anh hùng cổ nặng xiềng gông.

Ngài bị bắt giam ở chốn Kỳ Cùng

Quan oan vì tuyết nguyệt, bởi lòng ái ân

Trước cung điện, triều đình tra xét,

Bắt long hầu chuyển khắp mọi nơi.

Ngài oan vì ong bướm lả lơi,

Chiết hoa, đoạt phụ tội trời không dung.

Lệnh viễn xứ sơn cùng, thuỷ kiệt,

Nỗi oan này thấu tỏ hỡi cao minh.

Hoàng bào đã nhuôm chàm xanh

Tấm thân đành nhục vinh lẽ thường

Đường thiên lý quan san bỡ ngỡ

Hỏi trăng già có tỏ cho ai

Hỏi trăng hỏi gió hỏi trời

Hỏi rằng nguyệt lão trêu người vì đâu

Hỏi cây cỏ sao mưa dầu nắng dãi,

Vẫn vươn mình há ngại phong ba.

Cỏ cây ơi có thấu tỏ lòng ta,

Sơn cùng thuỷ kiệt sương sa lạnh lùng

Thà thác vinh còn hơn sống nhục,

Sông Kỳ Cùng tắm ngọc Côn Sơn

Kiệt cùng hiu hắt trăng non

SôngCùng trong đục nước tuôn đôi dòng

Ngẫm cảnh vật lòng đau như cắt

Nợ trần hoàn quyết dứt cho xong

Lòng riêng đã quyết với lòng

Mượn dây oan nghiệt cho xong tội trời

Rừng hoa cỏ thương người đã khuất

Bỗng đùng đùng gió giật mưa sa

Nỗi oan chuyển động đất trời

Dây oan kia biến thành đôi bạch xà

Đất Ninh Giang tìm nhà có phúc

Thử lòng người trong lúc lánh thân

Tháng hai vừa tiết trung tuần

Thử lòng ông lão mộng thần ứng ngay

Tỉnh giấc mộng mới hay sự lạ

Đôi bạch xà tựa cửa hai bên

Long xà kì dị thảo hiền

Từ khi xuất hiện vui thêm cửa nhà

Ba tháng sau đàn gà đã hết

Thương rắn hiền không biết lo sao

Khó Khăn âu cũng tính liều

Ông bà nông lão sớm chiều đông tây

Bỗng một buổi tai bay hoạ rủi

Hai ông bà mắc tội cửa công

Lệnh nghiêm sấm sét đùng đùng

Tậu gà nuôi rắn không dung tội này

Lệ nuốt lệ đắng cay xiết kể

Thương rắn thần tựa thể thương con

Khấu đầu tạ trước công môn

Xin đem đôi rắn thả luôn giữa dòng

Cơn phong vũ ầm ầm nổi dậy

Sóng bạc đầu nước xoáy mênh mông

Long xà thoát xuống thuỷ cung

Nước rẽ đôi dòng cuồn cuộn chứa chan

Khắp duyên hải sấm ran từ đấy

Bóng long hầu nổi dậy nơi nơi

những phường bán nước hại nòi

Gian tà quỷ quyệt tội trời không tha

Dìm đáy nước về toà thuỷ tộc

Tội gia hình bõ lúc sai ngoa

Lẽ thường tội báo oan gia

hại nhân nhân hại sự đà không sai

Nước Văn Lang vào đời Thục Phán,

Giặc Triệu Đà có ý xâm lăng,

Triều đình ra lệnh tiến binh,

Thuyền bè qua bên sông Tranh rợp trời.

Bỗng nổi trận phong lôi bão táp

Ba quân đều sợ hãi khiếp kinh

Hỏi ra mới biết sự tình

Thiết bày hương án lễ trình bên sông

Mời trưởng lão trong vùng thôn xóm

Khấn vừa xong gió lặng sóng yên

Uy linh sự đã hiển nhiên

lệnh truyền dân xã lập đèn bên sông

Công hộ quốc gia phong thượng đẳng,

Tước phong hầu truy tặng Đại vương,

Bảng vàng thánh thọ vô cương

Hiếu trung tiết nghĩa đôi đường vẹn hai.

Gương anh hùng muôn đời soi tỏ,

Đất Văn Lang thiên cổ anh linh,

Bao phen đắp luỹ xây thành,

Khắp miền duyên hải, sông Tranh nức lòng.

2. Văn khấn tạ Quan lớn Tuần Tranh dành cho con nhang, đệ tử

“Ra uy lẫm liệt tung hoành,
Trừ tà sát quỷ nên danh tướng tài,
Văn Lang thời ấy là ai,
Chỉ huy quân Việt diệt loài ngoại xâm,
Ninh Giang chính quán quê nhà.
Ông là Đại tướng danh là Tuần Tranh
Nào ngờ thời vận đổi thay
Đình thần vốn đã tỵ hiềm
Án oan quy tội cho người trung lương
Chỉ vì công lớn, oan gia
Không sao gỡ tội phải ra tội tù.
Lệnh viễn xứ đầy đi,
Sơn cùng thủy tận ngã ba Kỳ cùng.
Anh hùng mang nặng xiềng gông,
Áo chiến bào giờ đã nhuốm mầu chàm xanh
Lòng trung lương nào ai hay biết,
Có trời xanh mới tỏ tâm can
Trẫm mình đáy nước minh oan
Sông Kỳ Cùng rửa hết nhục oan cho người”.

Bài viết trên đây đã giới thiệu đến độc giả các bài văn khấn quan lớn tuần tranh hy vọng sẽ giúp ích cho độc giả trong việc thực hiện các nghi thức lễ bái để sở cầu thành hiện thực nhé!